Ứng dụng eKYC - tiến tới tất cả trong một

05:10 - 10-03-2021

Sau một thời gian triển khai thí điểm tại một số ngân hàng, từ ngày 5/3/2021 các TCTD chính thức được áp dụng phương thức định danh trực tuyến (eKYC) để mở tài khoản từ xa cho khách hàng.

eKYC (electronic Know Your Customer) - Định danh khách hàng trực tuyến. Để triển khai trên diện rộng dịch vụ mang tính mở “cao tốc” cho phát triển ngân hàng số, cơ quan quản lý và các tổ chức tài chính đã có thời gian chuẩn bị.

ung dung ekyc tien toi tat ca trong mot
Ảnh minh họa

Từ năm 2018, NHNN đã ban hành Quyết định số 2617/QĐ-NHNN về việc ban hành Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng thực hiện Chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường năng lực tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến năm 2020 và định hướng đến năm 2025. Một trong những mục tiêu NHNN đưa ra là ít nhất 20% các quy trình phải được tự động hóa vào năm 2020, tăng lên 35% vào năm 2025. Và hầu hết TCTD triển khai công nghệ eKYC… Từ đầu tháng 7/2020 NHNN đã cho phép khoảng 10 NHTM được thí điểm áp dụng eKYC. Đến ngày 3/12/2020, NHNN ban hành Thông tư 16/2020/TT-NHNN, sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 23/2014/TT-NHNN ngày 19/8/2018 về hướng dẫn việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, trong đó bổ sung Điều 14a quy định về mở tài khoản thanh toán của cá nhân bằng phương thức eKYC. Thông tư 16 chính thức có hiệu lực thi hành từ 5/3/2021.

Theo Thông tư 16, ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài căn cứ điều kiện công nghệ để đánh giá rủi ro, xác định phạm vi sử dụng và quyết định áp dụng hạn mức giao dịch qua tài khoản thanh toán của khách hàng mở bằng phương thức điện tử, nhưng phải đảm bảo tổng hạn mức giá trị giao dịch (ghi Nợ) qua các tài khoản thanh toán của khách hàng đó không quá 100 triệu đồng/tháng/khách hàng. Trong một số trường hợp đặc biệt, các đơn vị được quyết định áp dụng hạn mức giao dịch hơn 100 triệu đồng/tháng/khách hàng nhưng phải thực hiện thêm biện pháp phòng ngừa rủi ro như: thực hiện cuộc gọi ghi hình video call để thu thập, kiểm tra, xác minh thông tin nhận biết khách hàng; kiểm tra, đối chiếu đặc điểm sinh trắc học của khách hàng với dữ liệu sinh trắc học công dân thông qua Cơ sở dữ liệu căn cước công dân…

Ngân hàng đã triển khai eKYC cho biết, hoạt động kinh doanh của họ đã ghi nhận những kết quả ấn tượng khi lượng khách hàng mới tăng vọt, giao dịch qua kênh điện tử như moblie banking và internet banking cũng tăng rõ rệt. Theo công bố của NHNN: Năm 2020, số lượng giao dịch thanh toán qua moblie banking tăng gần 124% về số lượng và 126% về giá trị so với năm 2019; số lượng giao dịch thanh toán qua Internet tăng gần 9% về số lượng và 26% về giá trị giao dịch so với năm 2019.

Tuy nhiên, những người trong cuộc cũng thừa nhận việc triển khai eKYC, sẽ không ồ ạt khi cần có thêm điều kiện về cơ sở hạ tầng công nghệ, thông tin, con người… Để triển khai eKYC, các đơn vị phải xây dựng cơ sở dữ liệu rất lớn và có sự chia sẻ, kết nối không chỉ trong ngành Ngân hàng, mà cả các Bộ, ngành liên quan để có thể xác thực trực tuyến ngay lập tức, nhằm đảm bảo thông tin chính xác nhất có thể. Thuận lợi cho các tổ chức tài chính là hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và hệ thống sản xuất, cấp và quản lý căn cước công dân đã được Bộ Công an khai trương hôm 25/2/2021. Dự kiến chỉ đến tháng 7/2021 sẽ có 50 triệu công dân được cấp thẻ căn cước gắn chip.

Một vấn đề nữa, hiện đại rất dễ… “hại điện”. Tài chính - ngân hàng luôn nằm trong tầm ngắm của tội phạm công nghệ cao. Việc chia sẻ dữ liệu, không gặp mặt trực tiếp khách hàng cũng sẽ tạo điều kiện cho tội phạm lợi dụng. Xa hơn, khi eKYC được áp dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực thì Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông hay ngân hàng được quyền sử dụng thông tin sinh trắc học cấp mã định danh cho một công dân được sử dụng trong mọi dịch vụ thiết yếu từ y tế, viễn thông, du lịch, đến dịch vụ công, chứ không chỉ riêng trong lĩnh vực tài chính ngân hàng? Ngay bây giờ chúng ta cần có khung pháp lý phân định rõ quyền và trách nhiệm rõ ràng cho các cơ quan trong quản lý, sử dụng các cơ sở dữ liệu.