Tiền gửi ngân hàng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại của pháp nhân

05:14 - 15-08-2020

Những năm gần, sự cố và tranh chấp phát sinh từ hoạt động huy động vốn của ngân hàng xuất hiện thường xuyên hơn. Hầu hết các trường hợp, khách hàng đều cho rằng họ gửi tiết kiệm thật và bằng tiền thật. Ngược lại, phía ngân hàng thường khẳng định sổ tiền kiệm mà khách hàng đang nắm giữ là số... tiết kiệm giả (?!).

Chắc chắn, câu trả lời chính xác chỉ có thể có được khi dựa vào các thông tin cụ thể và đầy đủ của vụ việc. Bài viết này vì vậy chỉ giới thiệu thêm góc nhìn pháp lý có thể sẽ được sử dụng trong một số tình huống tương thích.

Thực ra, trong suốt mấy chục năm có sự hiện diện, các phiên bản Bộ luật dân sự ở Việt Nam đều đưa ra quy định về bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra. Điển hình, quy định này hiện tại đang được ghi nhận tại điều 297 Bộ luật dân sự 2015.

Với quy định này, pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra. Tuy nhiên, trách nhiện này của pháp nhân chỉ xuất hiện khi thiệt hại đó do người của pháp nhân gây ra trong lúc họ đang thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao. Ngược lại, thiệt hai do cá nhân gây ra ngoài thời gian và không gian thực hiện các công việc của pháp nhân sẽ nằm ngoài trách nhiệm của pháp nhân, và cá nhân đó phải tự mình gánh lấy trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Thực tế, đa phần các trường hợp, pháp nhân đều chỉ ra “lỗi” của nhân viên, thậm chí khẳng định rằng nhân viên của họ đã lừa dối khách hàng, và mời cơ quan điều tra vào cuộc. Cho dù như vậy, thì với tiếp cận của pháp luật hiện hành, sẽ không logic khi pháp nhân cho rằng họ không có trách nhiệm trước thiệt hại của khách hàng một khi khách hàng chứng minh được rằng, họ đã tiến hành giao dịch với nhân viên tại chính trụ sở của pháp nhân, và bản thân họ cũng không có lỗi trong việc gây ra thiệt hại đó.

Điều này còn được phản ánh rõ nét hơn bằng cơ chế bồi hoàn đã được pháp luật dân sự thừa nhận. Cụ thể, pháp nhân sau khi bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra có quyền yêu cầu nhân viên của mình hoặc người khác hoàn trả lại khoản tiền đó nếu như nhân viên hoặc người đó có lỗi trong việc gây ra thiệt hại cho khách hàng, đối tác của pháp nhân.

Một mặt, quy định này thể hiện tư duy, góc nhìn kinh tế của quy định pháp luật và thông qua đó bảo đảm quyền lợi của pháp nhân.

Mặt khác, cũng chính quy định này cho thấy pháp nhân trước hết phải đứng ra bồi thường cho những khoản thiệt hại mà bản thân mình… không có lỗi. Nếu có, đó là lỗi trong việc thiếu sự quản lý, kiểm soát chặt chẽ nhân viên hoặc chính quy trình cung ứng dịch vụ đã được chuyển giao cho nhân viên đảm trách như một loại nhiệm vụ của chính họ.

Nói chung, đó là tiếp cận cơ bản nhất của pháp luật trong các tình huống bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra. Và nguyên tắc pháp lý này thậm chí còn áp dụng cho tình huống xác định trách nhiệm bồi thường của cơ quan nhà nước trước những thiệt hại do cán bộ, công chức, viên chức của mình gây ra. Đương nhiên, sau khi bồi thường thiệt hại cơ quan đó được quyền quay sang áp dụng các dạng trách nhiệm kỷ luật và trách nhiệm vật chất (bồi hoàn) đối với chính các nhân viên đó.

Tóm lại, sẽ không thật sự thuyết phục nếu cho rằng pháp nhân không chịu trách nhiệm trước những thiệt hại do nhân viên gây ra khi thực hiện nhiệm vụ như những gì đã thấy trong một số tình huống đang được bàn cãi trên thực tế.

TRƯƠNG TRỌNG HIỂU
ĐH Kinh tế - Luật, ĐHQG TP.HCM
Từ Yokohama, Nhật Bản